Ngày đưa:  27/11/2014 03:19:38 PM
THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI
BBT: Nếu hiểu miền núi chỉ là một chút cồng chiêng, một chút nhà sàn, một chút lễ hội Đâm trâu, một chút đàn Wroắc Krâu….thì thực ra mới đụng đến cái vỏ văn hóa bên ngoài của núi rừng mà thôi. Bởi văn hóa của người miền núi là sự cố gắng bứt ra khỏi tự nhiên; bứt ra nhưng cứ dính liền, không chìm hẳn vào trong ấy nhưng còn phải nhúng rễ rất sâu trong ấy nếu không muốn khô khốc, cằn cỗi chết rụi. Đó là nội dung chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc để chia sẻ về một Chương của cuốn sách: Góc nhìn giáo dục miền núi.

           

Sắc vàng của ruộng bậc thang (Ảnh: Văn Xuân)

          CẢM QUAN CHUNG VỀ MIỀN NÚI 

         Miền núi Việt Nam cũng như các vùng miền núi Châu Á khác như NePal Đông Bắc Ấn Độ, vùng núi BurMa ở Thái Lan hoặc các vùng núi thuộc tỉnh Vân Nam – Trung Quốc…đều có một điểm gặp nhau là sự phát triển rất khó khăn. Cũng không hẳn chỉ riêng vùng núi các nước đang phát triển ở Châu Á mà ngay cả ở Mỹ, một quốc gia giàu có bậc nhất thế giới thì vùng núi rộng lớn Appclachia vẫn còn là một điển hình của vùng kém phát triển mặt dù đã có sự quan tâm rất lớn của Chính phủ.

         Phải khẳng định rằng đã từ lâu Đảng và Nhà nước đã dành rất nhiều sự ưu ái cho công cuộc phát triển miền núi, luôn chăm lo đến lợi ích của đồng bào các dân tộc thiểu số. Điều đó được thể hiện qua hàng loạt các Chỉ thị, Nghị quyết, Nghị định đã được ban hành với các chương trình phát triển, đầu tư tài chính luôn được ưu tiên để tạo mọi điều kiện cho miền núi phát triển, nâng cao đời sống cho các dân tộc ít người đang sinh sống hàng ngàn năm với núi rừng. Kết quả đạt được cho đến nay đã khẳng định tính ưu việt của Đảng và Nhà nước ta trong việc chăm lo cho miền núi và vùng dân tộc. Tuy nhiên, việc đầu tư ưu tiên vẫn chưa đạt được mục tiêu quan trọng nhất là xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững cho miền núi.

         Những năm qua Giáo dục và Đào tạo ở khu vực này đã có nhiều nỗ lực, nhưng kết quả chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển và những mong muốn Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đổi mới căn bản và toàn diện của Giáo dục và Đào tạo được Nghị quyết Trung ương 6 Khóa XI của Đảng xác định là một khâu đột phá chiến lược. Vì vậy, sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của cả nước nói chung và vùng dân tộc thiểu số, miền núi nói riêng cần phải có quyết tâm chính trị, nỗ lực cao và phải đổi mới tự nhận thức đến hành động thực tiễn.

         Vùng dân tộc thiểu số và miền núi vẫn đang được đánh giá là “vùng lõm” cả về kinh tế văn hóa, giáo dục và an ninh xã hội. Về giáo dục, việc nắm vững thực tiễn, phát hiện điển hình, coi trọng việc đúc rút kinh nghiệm, tập trung nghiên cứu, tháo gỡ tìm ra hướng đi phù hợp, hiệu quả, có thể coi là một trong những bài học quan trọng của công tác nghiên cứu và phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi từ trước đến nay.

         Chính vì vậy, qua bao năm công tác, lăn lộn với sự nghiệp giáo dục – đào tạo tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi của hai huyện Sơn Hà – Sơn Tây, Quảng Ngãi, chúng tôi luôn sống trong tâm trạng của người có lỗi khi mình vẫn chưa tạo ra được sự phát triển như kì vọng. Khó khăn trong công cuộc phát triển miền núi vẫn đang chồng chất phía trước. Bạn đọc cũng có thể cùng chia sẻ với tôi đó là những khó khăn gì? Vì sao vẫn chưa giải quyết được?… Những câu hỏi lớn ấy cần phải được trả lời một cách căn bản. Do vậy, lộ trình cho phát triển miền núi phải được tính toán kỹ trên cơ sở tổng kết thực tiễn và phải rất cụ thể cho từng vùng miền, từng địa bàn theo tính đặc thù của nó.

         Với những hiểu biết của mình, với lòng thiết tha góp phần nhỏ bé vào việc cải thiện cho một sự phát triển bền vững và hiệu quả hơn của sự nghiệp giáo dục tại khu vực này, tôi sẽ cố gắng lý giải cùng bạn đọc từ những câu hỏi lớn ấy! Đó là những kiến giải, phân tích, biện luận về bản chất cũng như nguyên nhân của khó khăn và đề xuất một số giải pháp để cải thiện từng bước trong từng lĩnh vực. Hy vọng, từ cách lý giải của mình, bạn đọc sẽ cùng chia sẻ với vùng núi và dân tộc. Chính sự đồng điệu này sẽ giúp ta không chỉ thu được những câu trả lời cho những giải pháp tốt hơn mà gợi ra những câu hỏi mới xác đáng hơn.

         Việt Nam có 15 tỉnh miền núi, 25 tỉnh có một số huyện và xã là miền núi, với diện tích khoảng 23 triệu ha, chiếm ¾ diện tích tự nhiên trong cả nước. Nói đến miền núi là nói đến địa hình phức tạp, núi cao, suối sâu, độ dốc lớn….đặc biệt nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, gió mùa nên đã làm phân hóa môi trường thiên nhiên, tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng. Vùng núi là nơi cư trú của trên 50 nhóm dân tộc, có nhiều phong tục tập quán, gắn bó với nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng ấy làm thành một hệ thống, trong môi trường xã hội tự nhiên vô cùng phong phú và phức tạp.

         Mặc dù núi non Việt Nam không cao lắm (cao nhất như đỉnh Phangxipăng 3143m, đỉnh Ngọc Linh 2548m) nhưng địa hình phần lớn bị chia cắt mạnh, có độ dốc lớn, ít đất bằng để làm lúa nước, buộc người dân phải phá rừng làm nương rẫy trên các sườn núi dốc.

         Vùng núi nước ta nằm trong điều kiện nhiệt đới gió mùa nên lượng mưa lớn và tập trung vào thời gian ngắn. Những cơn mưa ác liệt thường gây nên lũ, lụt; nhiều trận lũ quét đã tàn phá tài nguyên thiên nhiên, các công trình xây dựng, đường sá thủy lợi gây thiệt hại rất lớn về người và của cải hàng năm.

         Sự gia tăng dân số, cùng với nạn phá rừng và suy thoái môi trường đã gây ra thiếu nguồn lương thực cho miền núi. Hệ thống nông nghiệp miền núi đang gặp nhiều khó khăn trong sự phát triển bền vững. Nguồn sống chủ yếu của đồng bào miền núi vẫn là dựa vào rừng, đốt rừng làm rẫy. Nương rẫy vẫn là nguồn sống quan trọng của tất cả đồng bào các dân tộc vùng cao.

         Hiện các vùng núi, diện tích rừng còn lại rất thấp. Rừng bị tàn phá, nhiều loài  động vật mất nơi sinh sống. Vì mất nơi sinh sống mà sự tranh chấp có lúc giữa người và thú có lúc xảy ra ác liệt (trường hợp voi làm chết người ở Bình Thuận…), nguyên nhân của sự tán phá đều do con người mà ra (kể cả do cư dân bản địa và dân di cư).

        Mật độ dân số của các vùng núi phân bố không đều, đặc biệt có nhiều nơi có mật độ rất thấp do điều kiện quá khắc nghiệt và mong manh. Cùng với việc tăng dân số tại chỗ, một bộ phận dân cư từ đồng bằng lên sinh sống cũng làm mật độ dân số tăng lên hàng năm. Việc di cư tự do ở các tỉnh Tây Nguyên đã ra sự cạnh tranh về đất đai và đẩy một bộ phận dân cư lùi sâu vào rừng; do vậy rừng bị tiếp tục tàn phá và gây nhiều khó khăn cho việc phát triển giáo dục cho bộ phận dân cư này.

         Một số nét khái quát về môi trường tự nhiên miền núi trên cũng là sự khái quát những khó khăn, tác động đến việc phát triển giáo dục ở khu vực này kể cả trong quá khứ và tương lai. Bởi vì, cuộc sống của đồng bào dân tộc ít người ở những vùng núi xa xôi, hẻo lánh chưa thể đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển. Những mặc cảm tiêu cực luôn xuất hiện và những định kiến về sự lạc hậu, yếu kém đang tồn tại dai dẳng. Đặc biệt những quan điểm sống như “Con cọp không học mà vẫn sống” trở thành một triết lý giản đơn như một định kiến của người dân tộc thiểu số có thể làm cho con người ta trở thành chính con người mà định kiến đó đặt ra.

Nhà máy thủy điện Đắk Rinh(Ảnh: Văn Xuân)

         Quảng Ngãi là tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung bộ với đặc điểm điển hình là núi ăn sâu sát biển, địa hình có tính chuyển tiếp từ địa hình đồng bằng ven biển ở phía Đông đến địa hình miền núi cao phía Tây. Là tỉnh không phải miền núi nhưng có 40% số huyện là miền núi. Do vậy, vùng rừng giáp với phía Tây Đông Trường Sơn với vùng núi cao trùng điệp có diện tích tự nhiên chiếm 2/3 toàn tỉnh. Núi rừng tạo thành hình vòng cung, hai đầu nhô ra sát biển ôm chặt lấy vùng đồng bằng ở phía tây Biển và Tây nam sông Trà Khúc, các khối núi đều có bề mặt đỉnh cao từ 1000 – 1500m. Ở vùng thấp hơn núi  thường có độ cao từ 400 – 600m, còn ở vùng giáp đồng bằng núi chỉ còn 200 – 300m. Tính theo độ cao dần lên của núi từ đồng bằng, chúng tôi đã có nhiều lần kiến nghị ở Quảng Ngãi không nên gọi chung cho 6 huyện miền núi một cơ chế chung là: “miền núi”. Từ độ cao ấy sẽ tạo ra địa hình khắc nghiệt khó khăn có tính đặc thù khu vực miền núi. Xét theo điều kiện này ta sẽ có vùng núi giáp đồng bằng là huyện Minh Long; vùng núi thấp là huyện Sơn Hà, Ba Tơ và Trà Bồng, vùng núi cao bao gồm 2 huyện Sơn Tây và Tây Trà. Chính sự khác biệt này mà cách đây 15 năm, ông Đinh Xông – Nguyên Ủy viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo Minh Long khi đưa đoàn cán bộ của phòng lên thăm Sơn Tây có nói với anh em đoàn: Các anh chị lên Sơn Tây mới thấy đây đúng là “núi” chứ ở Minh Long mình cũng chưa thể gọi là “núi” đâu!

         Rừng núi Quảng Ngãi vốn là một địa bàn chiến lược quan trọng về lịch sử, là căn cứ địa cách mạng gắn liền với lịch sử chống áp bức và chống ngoại xâm của các tộc người sống hàng ngàn năm ở đây. Hiện vùng núi này vẫn còn nguyên giá trị lịch sử của các cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Con đường Đông Trường Sơn chuẩn bị thông đường một đoạn gần 30 km qua tỉnh Quảng Ngãi (huyện Sơn Tây) như minh chứng cho vùng đất chiến lược này.

         Thực ra theo một cách nghĩ đơn giản và tự nhiên như thuộc lòng là: miền núi có địa hình đồi núi dốc, bị chia cắt bởi nhiều thung lũng và sông suối…thì ta chưa cảm nhận hết hiểm nguy mà con người phải đối mặt với nó. Không đơn giản mà khi nói đến người miền biển ta thường liên hệ họ là: Ăn đằng sóng, nói đằng gió vì suốt đời họ đối mặt với sóng to gió lớn với sự khắc nghiệt của biển cả sẽ cuốn họ mất hút vào đại dương bất kỳ vào thời gian nào. Trái lại người miền núi âm thầm chịu đựng lầm lũi leo qua từng con dốc, vết mòn đôi tay vì bao năm phải bám chặt vào những cái bám được để khỏi bị trượt ngã…hiểu như thế, ta mới thấy được những câu ca dao đầy tình ý thâm thúy của cha ông: “Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua”. Tình yêu theo nghĩa riêng và nghĩa chung đều là như thế!

  

MỐI QUAN HỆ CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN MIỀN NÚI

         Nói đến miền núi là nói đến con người giữa lòng thiên nhiên với đất trời rộng mở. Thiên nhiên và con người là hai thực thể sóng đôi, cùng tồn tại và nương tựa vào nhau. Marx  từng cho rằng: “Con người trực tiếp là thực thể tự nhiên”, một “thực thể tự nhiên sống”. Con người miền núi tựa vào thiên nhiên mà chiến đấu và lao động, nuôi dưỡng thể chất, bồi đắp tình cảm và tâm hồn. Thiên nhiên ở đây vừa là môi trường sinh thái, là cơ sở thiết yếu nhất để con người tồn tại và cũng vừa là bầu bạn của con người.

         Một sự khái quát trên để giúp tôi nhận ra mối quan hệ nhân quả giữa con người với thiên nhiên tại mảnh đất mà mình đã gắn bó cả một thời công tác. Do vậy, những điều tôi sẽ viết về thiên nhiên và con người ở đây không như đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu mà chỉ có dụng ý là nêu cái bản thể của chính nó mà thôi. Đồng thời cũng giúp cho bạn đọc cùng chia sẻ với tôi về những tác động của mối quan hệ thiên nhiên – con người trong việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục cho khu vực còn đầy khó khăn thử thách này.

Lễ hội đâm trâu của người Kadong(Ảnh: Văn Xuân)

         Marx từng cho rằng: “Con người trực tiếp là thực thể tự nhiên”, một “thực thể tự nhiên sống”. Con người miền núi tựa vào thiên nhiên mà chiến đấu và lao động, nuôi dưỡng thể chất, bồi đắp tình cảm và tâm hồn. Thiên nhiên ở đây vừa là môi trường sinh thái, là cơ sở thiết yếu nhất để con người tồn tại vừa là bầu bạn của con người. Do vậy, khi bạn gia nhập vào cuộc sống miền núi có nghĩa là phải chọn lối sống cho hợp với tự nhiên, đánh thức khả năng giao cảm với thiên nhiên để đạt tới sự hài hòa trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Chính bởi mối quan hệ ràng buộc vĩnh viễn giữa con người miền núi với môi trường tự nhiên của họ mà sự gắn kết giữa hai thực thể của tạo hóa có khi đến độ sâu nặng, máu thịt. Điều này có nghĩa là ở miền núi con người luôn trải lòng mình với thiên nhiên, ngoại cảnh và ngoại cảnh lại có một tiếng nói riêng của nó mà chỉ có con người miền núi mới nghe và cảm nhận được.

         Mối quan hệ, gắn bó giữa con người và thiên nhiên miền núi thường được biểu hiện những hình tượng mang màu sắc tâm linh. Trong thế giới quan của người vùng cao, tự nhiên có khi là phiên bản của con người. Người ta xem cây cối giữa bản làng xanh tốt hay héo lá, gãy cành liên quan đến sức khỏe của dân làng; nước suối đầy hay cạn, cá nhiều hay ít liên quan đến đời sống êm đềm hòa thuận. Người thế nào, tự nhiên thế ấy, đó là đức tính thuần phát mà bền chặt của người miền núi. Một số vùng còn có niềm tin: Mỗi cây “vía” đều có chôn nhúm nhau của trẻ sơ sinh nên mỗi cái cây đều mang hồn người, đứa trẻ khỏe thì cây xanh tốt, đứa trẻ ốm yếu thì cây cũng quặt quẹo, còi cọc. (Người Kadong ở Sơn Tây lớn lên từ một tuổi thơ đầy ắp giữa  cảnh đẹp của núi rừng, như thế họ được bảo vệ bởi thần “Wing” và “Yêng Vóc Mong” những vị thần cai quản sông nước. Nguồn nước sạch đã được tôn vinh thành thần thánh trong đời sống tinh thần của người Kdong - Cư dân sông Rin, thượng nguồn của sông Trà Khúc – Quảng Ngãi cho thấy ý thức về vệ sinh của tộc người miền núi này. Như vậy, tự nhiên đã trở thành một chiếc gương thần bí soi chiếu đời sống trần thế và vận mệnh của con người. Sự trân trọng và lòng tin sâu sắc vào thế giới tự nhiên còn chứa đựng trong một số phong tục tập quán của người miền núi như người Tây Nguyên tâm niệm cùng sống và cùng chết với rừng, từ đó dẫn đến tục “bỏ mả” nghĩa là sau một số năm thì người sống không quan tâm đến người đã chết nữa vì tin rằng người chết sẽ về với rừng, rừng sẽ tái sinh cho họ… Điều này đã ăn sâu vào tiềm thức của những người Kinh khi lên làm ăn trên các vùng núi và họ thường nhắc nhở nhau “Cao nguyên là đất triền triền. Có làm cho chết không tiền về xe” . Đây chính là xuất phát từ quan niệm của cải và lộc trời của vùng núi không thể mang về xuôi được bởi tự nhiên nơi đây luôn níu giữ những tài sản thuộc về mình.

         Mối quan hệ con người và tự nhiên không phải bao giờ cũng diễn ra theo chiều hướng tốt đẹp, xuôi chiều. Mâu thuẫn khó giải quyết  giữa nhu cầu sinh tồn của con người với nhu cầu sinh tồn của tự nhiên, hiểm họa của rừng già với con người. Các địa danh như “Đèo Bẻ lá” cụm huyện miền núi Sơn Hà tương truyền xưa kia người đi trước phải bẻ nhánh cây thông báo cho người đi sau tín hiệu bình an, không có cọp dữ rình mò. Tiến độ đô thị hóa giờ đã đuổi cọp dữ vào tận rừng sâu, nhường chỗ cho con người nhưng cũng đã đẩy muông thú vô tội đến bờ vực tuyệt chủng. Chính vậy con người miền núi lại bộc lộ tính văn hóa trong phương cách ứng xử với tự nhiên của người đang bộc lộ. Con người không chỉ là một thực thể tự nhiên mà là “một thực thể tự nhiên có tính chất người” – Marx; do vậy sự tác động của con người và tự nhiên phải là sự tác động mang tính người, mang bản chất người. Bởi khi nhìn dòng sông trong mùa nước lũ sẽ giống như một kẻ thù hung tợn, độc ác giết người nhưng vào mùa nước cạn dòng sông như một mẹ hiền, nhân từ và sống với người như một đôi bạn nuôi nhau, làm giàu cho nhau. Đó là vệc tạo ra một “giới tự nhiên thứ hai” (Marx) – giới tự nhiên được văn học tạo thành hình ảnh nhân hóa, theo quy luật của cái đẹp và sự hài hòa trong mối quan hệ con người tự nhiên. Thiên nhiên được cải tạo bởi con người, từ một quan hệ đối nghịch đến quan hệ thân quen bè bạn. Biểu hiện của văn hóa trong mối quan hệ con người – tự nhiên là ở con người đều chỉnh tự nhiên, tái tạo tự nhiên theo nhu cầu và khả năng của mình. 

         Tính văn hóa của người miền núi đã tạo ra mối quan hệ tự nhiên - con người với khát vọng không chỉ là sự gắn bó, giao cảm thông thường mà thể hiện một sự hòa hợp tuyệt đối. Ở cả hai bình diện ý thức và tình cảm, con người thực sự tự coi mình là một bộ phận của tự nhiên và tìm thấy tự nhiên sự tồn tại đích thực của mình. Sản phẩm đặc biệt của sự hòa hợp cao độ ấy là con người được thiên nhiên hóa. Sự đồng hóa của con người và tự nhiên đến độ sâu thẳm nhất như con người đã bao đời coi rừng là bản nguyên, tâm linh và cội nguồn văn hóa suốt ngàn năm sống giữa thiên nhiên, người miền núi luôn tin rằng trong mọi vật đều có linh hồn như con người. Phải nói rằng sự hài hòa gần như tuyệt đối với tự nhiên, với thiên nhiên, người miền núi đã đồng hóa thiên nhiên với mình. Thiên nhiên cũng hữu tình với con người, vì sự gắn liền trên nên người miền núi luôn thân tình, hòa hợp đến cùng với tự nhiên và con người miền núi luôn trong sạch, lành mạnh, tự do, thanh thản như chính thiên nhiên là vậy…..

         Có thể nói, quy luật nhân quả trong quan hệ giữa con người và tự nhiên đã tồn tại từ xa xưa trong lịch sử phát triển tự nhiên và loài người. Tự nhiên là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển loài người. Điều này dễ dàng nhận thấy khi bạn đang sống ở một môi trường miền núi, tiếp xúc hằng ngày với thiên nhiên còn nhiều ưu ái. Thực tế cho thấy ở giữa đại ngàn hùng vĩ, nếu con người tác động theo đúng quy luật sẽ làm cho tự nhiên ngày càng phong phú và thân thiện, ngược lại nếu tác động trái quy luật sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái và tự nhiên sẽ trở thành thù địch với con người. Do đó con người miền núi không thể chỉ biết chinh phục tự nhiên mà phải biết sống nương theo; kẻ nào xâm hại vào thế giới tự nhiên sẽ bị quả báo thường mang màu sắc huyền bí, linh thiêng như đến từ một thế lực siêu nhiên nào đó mà con người không lường trước được. Người miền núi đã từng giải thích đó là oan hồn của giới tự nhiên để khuyên cộng đồng không săn bắn, giết chóc bừa bãi. Ở đây, mối quan hệ con người - tự nhiên đã được thần bí hóa trong ý thức tâm linh với sự vật đề cao sức mạnh của tự nhiên, tôn trọng quyền sống của tự nhiên và đặt tự nhiên trong thế bình đẳng với xã hội loài người. Điều này đang lý giải vì sao nhiều lúc ta phải giật mình khi quá nhiều các công trình thủy điện xây dựng ở miền núi các tỉnh miền trung nước ta. Những dư chấn địa lý của thủy điện Sông Tranh 2 hoặc sụ cố vỡ đập thủy điện IaKre 2 (Gia Lai) đang buộc mọi người suy nghĩ về những việc làm của con người đã tác động đến thiên nhiên muôn đời vốn có của nó. Bởi từ xa xưa con người đã quan niệm rằng trong tự nhiên vẫn có những quy luật, luật lệ, công lý và nó tồn tại độc lập. Bởi xét cho cùng, pháp luật của con người phải tuân theo luân lý và sự hài hòa trật tự của tự nhiên. Hiểu đúng điều này, chúng ta mới có ý thức đầy đủ và đặt ra vấn đề bảo vệ nguồn tài nguyên … của miền núi rõ ràng và kiên quyết. Bởi nhiều năm nay, ở miền núi, thay vì sự bao dung của người mẹ hiền, tự nhiên đã bắt đầu nổi giận. Sự tác động mạnh của chúng ta vào khu vực miền núi đã vượt qua khả năng cho phép và sự chứa đựng của sinh giới. Bởi khi quan hệ xin-cho dưới hình thức săn bắt, hái lượm đã tồn tại rất lâu thì đến nay con  người đã tàn phá một cách vô hại nên thiên nhiên gần như bị tước đoạt ở vùng núi. Bạn cứ tưởng tượng hàng ngày nhìn vào các vạt đồi bị phát trụi, cây cối bị chặt phá ngổn ngang và những ngọn lửa rừng rực cháy như đốt cả bầu trời thanh bình thì ta mới thấy sức nóng lan tỏa đến tận con tim. Đây cũng là điều rất đau lòng khi con người miền núi từ ngàn xưa xem mình là một bộ phận của tự nhiên, thậm chí xem tự nhiên là bản thể thứ hai của mình cùng chung sống hài hòa giữa tự  nhiên. Mối quan hệ tự nhiên ấy là một giá trị vĩnh hằng.

Thu hoạch lúa rẫy (Ảnh: Nhân Hiếu) 

         Từ sự cảm nhận về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên ở miền núi nói chung và huyện Sơn Hà, Sơn Tây – tỉnh Quảng Ngãi thời gian - 30 năm công tác của mình, tôi đã nghiệm thấy mối quan hệ ấy luôn mang tính biện chứng hai chiều, bền vững và sâu nặng. Ba mươi năm của một cuộc đời mà đặc biệt ở lứa tuổi đẹp nhất chưa phải là bao nhưng cũng giúp tôi đã trải nghiệm rất nhiều về nhận thức. Cái may mắn là do công tác trong ngành giáo dục với thiên chức là được tiếp xúc với con người miền núi từng ấy năm giúp tôi “ngộ” ra rất nhiều điều mà trước đó chỉ nằm trong lý thuyết. Nói theo số phận là định mệnh, nói theo văn chương là “duyên nợ” nhưng nói theo trái tim thì bấy nhiêu thời gian đã đủ làm tôi “say” với thiên nhiên quyến rũ nơi đây nên đã cùng cam chịu và chia sẻ với cư dân bản địa như quê hương thứ hai của mình. Tôi không thể giấu mình với đồng đội khi từ lâu, trong nếp nhăn suy nghĩ của mình xem đại ngàn nơi đây như có tâm hồn và quyền lực. Bởi tôi nghĩ rất đơn giản rằng nếu không chung thủy với núi rừng, không biết ơn nghĩa với chút lộc trời ở đây có lẽ tôi khó vượt qua những nguy hiểm ngay cả không giữ được sinh mệnh của chính mình.

 

Các tin tức khác
Tối ngày 22.3, Trường tiểu học Sơn Dung, Sơn Tây tổ chức đêm văn nghệ chào mừng kỷ niệm 86 năm ngày sinh nhật Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26.3.1931 - 26.3.2017).
Sáng ngày 21/3, Đoàn công tác của Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ngãi do ông Đỗ Văn Phu – Giám đốc Sở GD&ĐT làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với huyện Sơn Tây về công tác phát triển hệ thống giáo dục trên địa bàn huyện. Cùng đi có lãnh đạo các phòng, ban chuyên môn thuộc Sở. Tiếp và làm việc với Đoàn có các đồng chí Đinh Kà Để - Bí thư Huyện ủy; Trương Văn Do – Phó Bí thư thường trực Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện; Lê Văn Tùng – Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện; cùng các vị trong thường trực Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Sơn Tây; lãnh đạo các đơn vị Phòng Giáo dục và Đào tạo, Trường THCS Dân tộc nội trú, Trung tâm Giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp và Dạy nghề huyện và Trường THPT Đinh Tiên Hoàng.
Sáng ngày 06/02, Đoàn công tác của lãnh đạo huyện Sơn Tây do đồng chí Võ Thìn – Phó Chủ tịch UBND huyện làm trưởng đoàn đã đi kiểm tra thực tế tình hình học sinh ra lớp sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 tại các điểm trường chính, điểm trường lẻ trên địa bàn 9 xã trong huyện. Cùng đi trong đoàn có bà Phạm Thị Ngọc Vấn – Phó Chủ tịch HĐND huyện; ông Lê Kim Thanh – Phó Chánh Văn phòng HĐND&UBND huyện; ông Hà Phải – Phó Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện.
Nhằm hỗ trợ cho cán bộ, giáo viên có hoàn cảnh khó khăn được vui Xuân đón Tết cổ truyền dân tộc, chiều ngày 20/01/2017 ông Đinh Quang Ven – Phó Chủ tịch UBND huyện và lãnh đạo Liên đoàn Lao động huyện Sơn Tây đã tổ chức thăm hỏi và trao tặng 34 xuất quà với trị giá 500 đồng/xuất cho cho cán bộ, giáo viên, người lao động trên địa bàn huyện có hoàn cảnh khó khăn; 1.000.000 đồng/xuất đối với những cán bộ, công chức lâm bệnh nặng. Đây là những phần quà được huyện Sơn Tây huy động từ nguồn đóng góp của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện.
Trung thu đối với trẻ em đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi thường rất thiếu thốn bởi hoàn cảnh khó khăn. Nhiều em thiếu nhi chưa một lần được tận hưởng một mùa trung thu trọn vẹn. Và để chia sẻ niềm vui ấy đến với thiếu nhi nghèo miền núi, Câu lạc bộ (CLB) Honda 67 Quảng Ngãi – “Nồi cháo từ tâm” phối hợp với xã Sơn Lập và các Trường, THCS, Tiểu học và Mầm non ở xã Sơn Lập, huyện Sơn Tây tổ chức chương trình “Vầng trăng yêu thương” để mang trung thu về với trẻ em đồng bào Cadong.
Ở huyện miền núi Sơn Tây, Quảng Ngãi, còn có rất nhiều điểm trường xa xôi, cách trở nhưng các thầy cô giáo vẫn từng ngày, từng giờ vượt qua bao khó khăn để đem cái chữ đến với các em, sẵn lòng giúp các em có thành tích tốt trong học tập.
(ANTV) - Đối với học sinh ở các huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi, việc đến các điểm trường chính để học chữ là hết sức khó khăn, nhất là học sinh tiểu học vì phải băng rừng, vượt suối nên nhiều em học sinh đối mặt trước nguy cơ bỏ học. Để giữ chân học trò bám trường bám lớp, những điểm trường tạm được xây dựng tạm bợ tại các bản làng vùng sâu.
Chiều 16/11/2015, Ngành Giáo dục huyện Sơn Tây đã tổ chức Khai mạc Giải bóng chuyền Nam truyền thống lần thứ IV năm 2015 chào mừng Kỷ niệm 33 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 – 20/11/2015). Về dự có đồng chí Trương Văn Do – Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, ông Nguyễn Hoàng Hưng – Phó Chủ tịch HĐND huyện cùng lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể huyện.
Chiều 21.9, các em thiếu nhi ở huyện vùng cao Sơn Tây, Quảng Ngãi đón một mùa trung thu vui vẽ, đầm ấm do chương trình “Vầng trăng yêu thương” – Trung thu năm 2015 do Tỉnh đoàn, Nhà thiếu nhi Quảng Ngãi, Huyện đoàn Sơn Tây phối hợp với Trường Tiểu học và THCS xã Sơn Bua tổ chức tại trường Tiểu học và THCS xã Sơn Bua huyện Sơn Tây.
(Báo Quảng Ngãi)- Nhiệm kỳ qua, nhờ sự quan tâm đầu tư toàn diện cho giáo dục, nên đến nay Sơn Tây đã có 2 trường đạt chuẩn quốc gia. Công tác phổ cập THCS, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và hoàn thành phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt nhiều kết quả tích cực. Điều này góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, tạo nguồn nhân lực tại chỗ có chất lượng cho địa phương...
   Liên kết web